Chiều thứ hai, 19.04.2010, Bệnh viện Bình Dân đã tiến hành sơ kết chương trình triển khai phẫu thuật nội soi ổ bụng với chỉ một vết mổ trên các phẫu thuật thường gặp trong Niệu khoa và Ngoại Tổng quát. Các đề tài được triển khai bởi 6 nhóm được phân công kỹ lưỡng trong việc lựa chọn bệnh nhân có tiêu chuẩn phù hợp, chỉ định đúng, dụng cụ nội soi thích hợp.
Mục đích: Tính độ nhạy và độ đặc hiệu của siêu âm trong chẩn đoán ung thư trên bướu giáp đa nhân.
Đối tượng và phương pháp: nghiên cứu bệnh chứng hồi cứu dựa trên giải phẫu bệnh sau mổ, chọn ngẫu nhiên 2 nhóm bướu giáp đa nhân lành và ác tính trong thời gian từ 2003 đến 2008 tại BV ĐHYD TPHCM.
Mục đích: Đánh giá kết quả bước đầu ứng dụng phương pháp can thiệp nội mạch trong chẩn đoán và điều trị một số bệnh lý niệu khoa, thực hiện tại Bệnh viện Bình Dân từ 5/2008 đến 9/2009.
Đối tượng – phương pháp nghiên cứu: Tất cả bệnh nhân được tiến hành theo một trình tự nhất định: Nằm ngửa, tiền mê nhẹ, đặt catheter qua động mạch đùi phải theo phương pháp Seldinger khảo sát DSA (X quang mạch máu kỹ thuật số xóa nền). Nếu có chỉ định can thiệp chúng tôi dùng vật liệu thuyên tắc là ethanol tuyệt đối, spongel tán nhuyễn, keo sinh học hoặc stent tùy vào thương tổn cần điều trị.
Mổ nội soi với chỉ một lỗ vào ổ bụng(single port access (SPA) surgery, single incision laparoscopic surgery - SILS, one port umbilical surgery - OPUS, single port incisionless conventional equipment utilizing surgery - SPICES, laparo - endoscopic single site - LESS) là một phương pháp mới cho phép bác sỹ phẫu thuật vào ổ bụng qua một lỗ duy nhất, đặc biệt là qua rốn. Phương pháp này cũng giống như nhiều phương pháp mổ nội soi khác, bệnh nhân được phẫu thuật dưới sự gây mê, và mổ dưới sự hỗ trợ của nội soi ổ bụng.
SPA surgery được thực hiện lần đầu tiên trong điều trị mổ cắt ruột thừa vào năm 1992 bởi Pelosi và cộng sự. (one trocar – one 10 mm laparoscope with a 5 mm working channel)
1997, Navarra mổ cắt túi mật bằng phương pháp này. (multiple fascial puntures)
2008, Romanelli; Rao cắt túi mật nội soi với (Tri-PortTM). Cuesta với (multiple fascial puntures –two 6mm trocars).
Cắt bán phần đại tràng bởi Remzi với (Uni-XTM) và Bucher với (One 12mm trocar-10mm laparoscope with a 6mm working channel) vào năm 2008.
Phẫu thuật dạ dày trong điều trị thừa cân bởi Saber, Reavis (multiple fascial puntures) năm 2008.
Điều trị béo phì với phương pháp (Ajustable gastric banding – One 15mm trocar → four 5mm trocars) bởi Nguyen , 2008.
Tán sỏi ngòai cơ thể (Extracorporeal shockwave lithotripsy -ESWL) là một kỹ thuật dđiều trị sỏi niệu ít xâm lấn áp dụng lần đầu tiên năm 1982 tại Khoa Niệu Trường Đại học Munich (Cộng Hòa Liên Bang Đức), từ đó phát triển tại các nước phát triển như là sự lựa chọn đầu tiên trong việc điều trị sỏi niệu vì những lợi ích to lớn của nó.
Đặt vấn đề: Các bệnh nhân nữ trẻ tuổi đã tạo hình bàng quang bằng ruột có thể lấy chồng và có khả năng có thai. Vấn đề lo lắng của chúng tôi là sự phát triển của thai kỳ có ảnh hưởng đến bàng quang tân tạo không và khả năng chuyển dạ sinh con thế nào ?
Bệnh nhân: Bài viết này ghi nhận 2 trường hợp sản phụ đã được mở rộng bàng quang bằng ruột (MRBQBR) rồi đã có thai và sinh con.
Đặt vấn đề:Sỏi mật là một trong những bệnh đường tiêu hóa thường gặp trên thế giới, Sỏi ống mật chủ gặp nhiều ở các nước Đông Á. Bệnh thường diễn tiến thầm lặng, phần lớn là không có triệu chứng. Ở Việt Nam nói chung và thành phố Hồ Chí Minh nói riêng sỏi mật cũng là một bệnh rất phổ biến. Tuy nhiên các nghiên cứu dịch tễ về bệnh sỏi mật còn chưa nhiều.
Phẫu thuật nội soi một vết mổ là phương pháp điều trị để lại sẹo nhỏ sau mổ. Trong bài viết này chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm ban đầu trong điệu trị cắt chóp nang và cắt thận tại BV Bình Dân. Phương pháp nghiên cứu: tiền cứu và phân tích. Từ tháng 9/2009 đến 10/2009 chúng tôi thực hiện 6 bệnh nhân bằng Phẫu thuật NS1VM, trong đó 2 trường hợp cắt thận, 4 trường hợp cắt chóp nang. Chúng tôi ghi nhận lại phương tiện chẩn đoán, diễn tiến trong khi mổ, và tình trạng đau, thuốc giảm đau sử dụng sau mổ.
Bệnh trĩ rất thường gặp, chủ yếu là ở người lớn tuổi. Đã có vài nghiên cứu đề cập đến vấn đề này nhưng phần lớn chỉ giới hạn trong điều trị và những nghiên cứu trong cộng đồng còn rất ít, nhất là tại TP.HCM. Vì vậy, chúng tôi tiến hành nghiên cứu “Đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh trĩ ở người ³ 50 tuổi- Kết quả khảo sát tại 24 quận huyện ở thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 01/2006 đến tháng 07/2006” với mong muốn góp phần đưa ra một cái nhìn sơ bộ về bệnh trĩ trong cộng đồng người ³ 50 tuổi tại TP.HCM, xác định tỷ lệ hiện mắc bệnh trĩ trong cộng đồng, qua đó khảo sát các đặc điểm dịch tễ học và lâm sàng của bệnh trĩ.
Thuốc kháng đông uống lâu dài thường được dùng để phòng ngừa thuyên tắc mạch cho bệnh nhân rung nhĩ mãn tính, thay van tim cơ học, thuyên tắc động tĩnh mạch… Khi những bệnh nhân nầy cần phẫu thuật hay làm thủ thuật thường đối diện với 2 nguy cơ: thuyên tắc mạch khi dừng tạm thời thuốc kháng đông uống, và nguy cơ chảy máu liên quan đến dùng tiếp thuốc kháng đông và chính phẫu thuật, làm thế nào để có điều trị tốt nhất cho nhóm bệnh nhân nầy? Chưa có đồng thuận tối ưu điều tri bệnh nhân dùng kháng đông chu phẫu, cách tiếp cận tốt nhất là xem xét bệnh nhân phẫu thuật cấp cứu hay chương trình?
Phẫu thuậtlấy sỏi qua da đã thành thường quytại Khoa-Phân môn Niệu bệnh viện Bình Dân. Trong bài viết này chúng tôi muốn giới thiệu kỹ thuật đường vào đài trên thận trong một số trường hợp lấy sỏi qua da cho sỏi thận phức tạp trong thời gian từ 6/2007 đến 5/2009
Vừa qua vào lúc 7g30 sáng ngày 15/01/2010 tại khoa cấp cứu BV Bình Dân có tiếp nhận một trường hợp bệnh nhân nam tên T.B.K 16 tuổi nhập viện trong tình trạng đau tức dữ dội và sưng nề bìu trái (bệnh nhân chỉ có tinh hoàn trái, tinh hoàn phải đã được cắt bỏ khi còn nhỏ)
Từ năm 2004, tại BV Bình Dân, chúng tôi đã ứng dụng phương pháp mổ nội soi cắt tuyến tiền liệt tận gốc. Chúng tôi chia sẻ kinh nghiệm về kỹ thuật mổ nội soi ngoài phúc mạc, chẩn đoán lâm sàng, kết quả điều trị.
Quan điểm về mạc treo trực tràng và cắt toàn bộ mạc treo trực tràng là một quan điểm tiến bộ trong điều trị phẫu thuật ung thư trực tràng. Tuy được quảng bá rộng trên toàn thế giới nhưng ít có báo cáo quan điểm căn bản. Qua bài tổng quan này, chúng tôi hy vọng phẫu thuật viên hiểu rõ hơn và thực hiện tốt quan điểm cắt toàn bộ mạc treo trực tràng khi cắt trước thấp và khi thực hiện phẫu thuật Miles nhằm giảm tỷ lệ tái phát tại chỗ.
Thận-niệu quản đôi là bệnh lý bẩm sinh khá phổ biến trong niệu khoa. Chúng tôi đã thực hiện một số trường hợp phẫu thuật nội soi ổ bụng cắt bán phần thận-niệu quản (thận trên mất chức năng) hoặc phẫu thuật nội soi ổ bụng cắm lại niệu quản vào bàng quang (thận còn chức năng). Các phẫu thuật này gần như đã trở thành thường qui đối với bệnh lý thận-niệu quản đôi cắm lạc chỗ. Tuy nhiên, thận-niệu quản đôi cùng cắm lạc chỗ là một tình trạng rất hiếm gặp. Chúng tôi muốn báo cáo một trường hợp lâm sàng và bàn luận bệnh lý hiếm gặp này đã được phẫu thuật nội soi ổ bụng phối hợp 2 phẫu thuật nêu trên.
Nghiên cứu biến chứng phẫu thuật (BCPT) đồng nghĩa với nghiên cứu chất lượng điều trị trong ngoại khoa. Vì vậy, nghiên cứu BCPT hết sức quan trọng. Cho đến nay, mặc dù đã có nhiều báo cáo về vấn đề nầy, các chuyên gia ngoại khoa vẫn chưa nhất trí đưa ra một định nghĩa chung.
Muốn lượng giá kết quả phẫu thuật thì phải theo một bảng chỉ số dựa trên những biến chứng (BC). Một bảng chỉ số như vậy có thể có 2 phần: phần BC chung cho bất kỳ phẫu thuật nào và phần BC riêng cho từng loại phẫu thuật dành cho mỗi nhóm bệnh.
Bướu bàng quang là bướu ác thường gặp trên hệ niệu-sinh dục. Khi bướu đã xâm lấn đến và quá lớp cơ thành bàng quang thì thường phải cắt bỏ bàng quang để điều trị. Bướu nông (Ta, CIS, T1) là danh từ dùng để chỉ giai đoạn còn khu trú tại niệu mạc.
Có nhiều yếu tố có ý nghĩa dự hậu, còn gọi là yếu tố nguy cơ, có thể dùng để phân loại và đánh giá sự tiến triển của từng loại bướu. Những yếu tố nguy cơ thường được chú ý là: kích thước bướu, số lượng bướu, số lần tái phát trên một đơn vị thời gian, giai đoạn tiến triển, độ biệt hóa tế bào, và có hay không sự hiện diện của CIS.